Scholar Hub/Chủ đề/#điều hòa sinh sản/
Điều hòa sinh sản là một yếu tố quan trọng trong y tế công cộng và sức khỏe cá nhân, giúp kiểm soát quá trình sinh nở và bảo vệ sức khỏe sinh sản, đặc biệt cho phụ nữ. Các phương pháp bao gồm hóa học (thuốc tránh thai), cơ học (bao cao su, IUD), tự nhiên (theo dõi chu kỳ) và vô sinh tạm thời hoặc vĩnh viễn (cắt, thắt ống dẫn tinh). Việc kiểm soát sinh sản góp phần bảo vệ sức khỏe, giảm thiểu tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, nâng cao vị thế phụ nữ và hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc cung cấp dịch vụ là cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.
Điều Hòa Sinh Sản: Khái Niệm và Tầm Quan Trọng
Điều hòa sinh sản (hay kiểm soát sinh sản) là một khía cạnh quan trọng trong y tế công cộng và sức khỏe cá nhân. Nó bao gồm các phương pháp và biện pháp nhằm kiểm soát quá trình sinh nở và bảo vệ sức khỏe sinh sản của các cá nhân, đặc biệt là phụ nữ. Việc điều hòa sinh sản có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định gia đình, giảm thiểu tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Các Phương Pháp Điều Hòa Sinh Sản
Có nhiều phương pháp điều hòa sinh sản khác nhau, bao gồm cả biện pháp tạm thời và lâu dài. Những phương pháp này thường được phân loại thành các nhóm chính như sau:
Phương Pháp Hóa Học
Phương pháp hóa học bao gồm việc sử dụng thuốc tránh thai (viên uống, miếng dán, vòng âm đạo) để ngăn chặn quá trình rụng trứng hoặc làm dày chất nhầy ở cổ tử cung để ngăn chặn tinh trùng xâm nhập. Thuốc ngừa thai còn có dạng tiêm và cách cấy dưới da, với thời gian hiệu lực từ vài tháng đến vài năm.
Phương Pháp Cơ Học
Các phương pháp này chủ yếu xoay quanh việc sử dụng bao cao su, màng chắn âm đạo hoặc các thiết bị khác để ngăn cản tinh trùng gặp trứng. Ngoài ra, phương pháp đặt vòng tử cung (IUD) cũng được xem là một phương pháp cơ học hiệu quả và phổ biến.
Phương Pháp Tự Nhiên
Đối với những người ưu tiên phương pháp tự nhiên, việc theo dõi chu kỳ kinh nguyệt để xác định thời điểm không an toàn là một lựa chọn. Phương pháp xuất tinh ngoài và phương pháp gián đoạn (ngừng giao hợp trước khi xuất tinh) cũng thuộc nhóm này, tuy nhiên hiệu quả của chúng không cao.
Phương Pháp Vô Sinh Tạm Thời và Vĩnh Viễn
Các phương pháp này bao gồm cắt ống dẫn tinh hoặc thắt ống dẫn trứng, là những biện pháp ít bị tác động thất bại do tính chất vĩnh viễn của chúng. Họ thường được lựa chọn bởi những người không muốn có con thêm nữa hoặc gặp khó khăn trong việc sử dụng các phương pháp khác.
Tầm Quan Trọng của Điều Hòa Sinh Sản
Điều hòa sinh sản có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảm tỉ lệ phá thai không an toàn, bảo vệ sức khỏe sinh sản của phụ nữ và trẻ em, và giúp các gia đình lên kế hoạch sinh con một cách khoa học. Nó còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế xã hội và kinh tế của phụ nữ.
Kết Luận
Việc tiếp cận điều hòa sinh sản hiệu quả giúp tăng cường sức khỏe cộng đồng và là một yếu tố không thể thiếu để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Để nâng cao nhận thức và quyền lựa chọn của các cá nhân, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan y tế, tổ chức xã hội và chính phủ trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ chất lượng.
Nhóm các chức năng sinh sản của progesterone do đồng dạng Progesterone Receptor-B điều hòa Dịch bởi AI American Association for the Advancement of Science (AAAS) - Tập 289 Số 5485 - Trang 1751-1754 - 2000
Progesterone điều hoà chức năng sinh sản qua hai thụ thể nội bào, thụ thể progesterone – A (PR-A) và thụ thể progesterone – B (PR-B), vốn phát sinh từ một gen duy nhất và hoạt động như là những chất điều chỉnh phiên mã của những gen đáp ứng progesterone. Mặc dù các nghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng các đồng dạng PR có thể biểu hiện hoạt động điều hành phiên mã khác nhau, ý nghĩa sinh lý của chúng vẫn chưa được biết. Bằng cách loại bỏ chọn lọc PR-A ở chuột, chúng tôi đã chứng minh rằng đồng dạng PR-B điều chỉnh một số chức năng sinh sản của progesterone qua việc điều tiết một số gen mục tiêu đáp ứng progesterone. Do đó, PR-A và PR-B là các trung gian chức năng riêng biệt của tác động progesterone trong môi trường sống và đây có thể là mục tiêu phù hợp để tạo ra các progestin chọn lọc mô.
#progesterone #thụ thể progesterone #PR-A #PR-B #điều hòa phiên mã #chức năng sinh sản #gen mục tiêu đáp ứng progesterone #áo dụng trong chuột #progestin chọn lọc mô
TÁC DỤNG ĐIỀU HÒA HORMON SINH DỤC CỦA HAI CHẾ PHẨM TỪ ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO DO CÔNG TY TNHH LAVITE SẢN XUẤTĐặt vấn đề: Ở Việt Nam, nấm Đông trùng hạ thảo (Cordyceps militaris) là dược liệu quý có nhiều ứng dụng trong phòng, trị bệnh và nâng cao sức khỏe con người. Phương pháp: Nghiên cứu tiến hành trên mô hình chuột nhắt trắng giảm năng sinh dục, xác định hàm lượng testosteron và 17β-estradiol bằng kỹ thuật ELISA theo quy trình của bộ kit được cung cấp bởi hãng Abcam. Kết quả: Trên chuột bị gây giảm năng sinh dục, Nước Đông trùng hạ thảo Hector Sâm (11,76-23,52mL/kg trọng lượng) và viên nang Đông trùng hạ thảo Hector 100% (58,8-117,6 mg bột/kg trọng lượng) có tác dụng làm tăng nồng độ testosteron (2,37-2,87ng/mL) và 17β-estradiol (24,28-32,32 pg/mL gần bằng với chứng sinh lý tương ứng (3,87ng/mL và 41,25 pg/mL) mà không ảnh hưởng đến chuột bình thường. Kết luận: Cả 2 chế phẩm đều có thể sử dụng với tác dụng cải thiện chức năng sinh dục ở nam và nữ.
#17β-estradiol #Cordyceps militaris #Đông trùng hạ thảo #testosteron
THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN TẠI KHOA CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2021Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng điều trị hiếm muộn tại khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản-Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Kiên Giang năm 2021 và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 770 đối tượng nghiên cứu (385 cặp vợ chồng) đang điều trị hiếm muộn tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, CDC tỉnh Kiên Giang và được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Số liệu được thu thập bằng phát vấn (tự điền) bộ câu hỏi DASS.21. Kết quả: Tỷ lệ lo âu ở người vợ cao hơn so với người chồng (46,2% so với 33,3%). Tỷ lệ trầm cảm ở người vợ và ở người chồng lần lượt là 17,7% và 10,06%. Lo âu và trầm cảm hầu hết ở mức độ nhẹ. Lo âu mức độ nặng và trầm cảm mức độ trung bình chỉ gặp ở người vợ và đều chiếm tỷ lệ nhỏ là 0,5% Yếu tố liên quan với tình trạng lo âu ở nhóm người vợ là ≥ 35 tuổi, tình trạng sống riêng (không ở với gia đình) và thời gian hiếm muộn ≥ 45 tháng (với OR lần lượt là 2,30, 3,75 và 1,74 lần). Yếu tố liên quan với tình trạng lo âu ở nhóm người chồng là tình trạng sống riêng (với OR = 2,2). Yếu tố duy nhất liên quan đến tình trạng trầm cảm ở nhóm người vợ là tình trạng sống riêng với OR = 2,2, trong khi ở nhóm người chồng các yếu tố liên quan đến trầm cảm bao gồm kinh tế khá giả, tình trạng sống riêng với OR tương ứng là 2,58 và 4,74. Kết luận: Tỷ lệ lo âu ở các cặp vợ chồng hiếm muộn là khá cao, tỷ lệ lo âu ở người vợ cao hơn rõ rệt so với người chồng (46,2% so với 33,5%). Tỷ lệ trầm cảm ở người vợ cũng cao hơn so với người chồng (17,7% so với 10,06%). Các yếu tố liên quan đến lo âu ở cặp vợ chồng hiếm muộn bao gồm: tuổi ≥ 35, tình trạng sống riêng, thời gian hiếm muộn, trong đó ở người chồng chỉ có yếu tố tình trạng sống riêng là liên quan có ý nghĩa thống kê. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở cặp vợ chồng hiếm muộn bao gồm: kinh tế khá giả và sống riêng, trong đó ở người vợ chỉ có yếu tố sống riêng là liên quan có ý nghĩa thống kê.
#hiếm muộn #lo âu #trầm cảm #yếu tố liên quan #trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Kiên Giang
Các dấu ấn sinh học tiên đoán và tiên đoán trong ung thư đại trực tràng: Những tác động đối với bác sĩ phẫu thuật lâm sàng Dịch bởi AI Annals of Surgical Oncology - Tập 22 - Trang 3433-3450 - 2015
Ung thư đại trực tràng là một căn bệnh không đồng nhất với một loạt các kết quả lâu dài và phản ứng với điều trị. Những tiến bộ gần đây trong việc phân loại di truyền và phân tử của các khối u đã tạo ra một tập hợp các dấu ấn sinh học tiên đoán và tiên đoán, hỗ trợ việc xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao tái phát và tiến triển bệnh. Trong một số trường hợp, các dấu ấn này còn chỉ ra khả năng phản ứng với một phương pháp điều trị cụ thể. Ngày càng nhiều, các dấu ấn sinh học này đã trở thành phần không thể thiếu trong thuật toán điều trị cho việc quản lý bệnh nhân mắc ung thư đại trực tràng. Các yếu tố tiên đoán và tiên đoán trong ung thư đại trực tràng có thể được phân loại một cách rộng rãi thành các tác động của điều trị, các yếu tố lâm sàng bệnh học và các chỉ dấu phân tử. Bài tổng quan này sẽ tập trung chủ yếu vào các chỉ dấu phân tử, mà là nền tảng cho sự chuyển mình về phương pháp điều trị ung thư cá nhân hóa.
#ung thư đại trực tràng #dấu ấn sinh học #tiên đoán #điều trị #phẫu thuật #sinh học phân tử #điều trị cá nhân hóa
Tác động của 2,4-DP và BAP đối với sự hình thành quả và năng suất hạt trong đậu tương được xử lý ở các giai đoạn sinh sản Dịch bởi AI Plant Growth Regulation - Tập 36 - Trang 215-221 - 2002
Số lượng lớn hoa và quả non của đậu tương (Glycine max L. Merr.) bị rụng thay vì phát triển thành quả chín. Sự rụng hoa và quả hay còn gọi là sự thối thai chiếm phần lớn tổng số sự rụng sinh sản và ảnh hưởng đến tiềm năng năng suất của đậu tương. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các mẫu hình phát triển hoa, quả và hạt dưới các phương pháp xử lý bằng các chất điều hòa sinh trưởng, axit 2-(2,4-dichlorophenoxy) propanoic (2,4-DP) và 6-benzylaminopurine (BAP), được áp dụng ở giai đoạn sinh sản sớm, và kiểm tra mối liên quan giữa sự rụng sinh sản với các đặc điểm sinh trưởng và các tính trạng nông học, bao gồm năng suất hạt và trọng lượng hạt. Các giống hạt nhỏ [cv Pungsan (11.1 ± 0.4 g 100-hạt−1)] và hạt lớn [cv Manlee (21.0 ± 0.5 g 100-hạt−1)] được trồng riêng biệt trong nhà kính và ngoài đồng ruộng và được xử lý bằng 2,4-DP hoặc BAP. 2,4-DP (một auxin tổng hợp) và BAP (một cytokinin tổng hợp) được áp dụng ở ba nồng độ khác nhau (tức là cao, trung bình hoặc thấp): 0.12mM, 0.08 mM, 0.04 mM, và 1.5mM, 1 mM, 0.5 mM tương ứng. Nồng độ cao và thấp được sử dụng cho các thí nghiệm trong nhà kính nhằm kiểm tra số lượng hoa trên mỗi cây trong chậu. Với ngoại trừ điều trị BAP thấp (0.5mM) ở Pungsan, tất cả các phương pháp điều trị đều gia tăng tổng số quả với số hạt khác nhau trong mỗi quả. Nồng độ 2,4-DP thấp (0.04 mM) ở cả hai giống hoặc BAP (0.5 mM) ở Manlee đã làm giảm đáng kể hiện tượng rụng hoa và trì hoãn sự rụng quả ở cả hai giống, dẫn đến tỷ lệ hình thành quả được gia tăng. Dưới điều kiện thực địa sử dụng nồng độ trung bình, BAP 1 mM đã làm tăng đáng kể trọng lượng 100 hạt lên 22.3 g tại giai đoạn R1 ở Manlee và 11.9 g tại giai đoạn R3 ở Pungsan. BAP (1 mM) tại R3 ở Pungsan đã cải thiện đáng kể năng suất hạt (40.1g cây−1). Độ chín không bị ảnh hưởng đáng kể bởi bất kỳ cách áp dụng nào trong Manlee, nhưng bị ảnh hưởng đáng kể bởi BAP ở Pungsan. Ở Pungsan, 2,4-DP đã làm tăng số lượng quả, chiều cao cây và số lượng đốt, nhưng làm giảm trọng lượng 100 hạt ở Pungsan được xử lý tại R1, không gây ra sự thay đổi đáng kể nào trong năng suất hạt. Nghiên cứu này gợi ý rằng các chất điều hòa exogenous đã ảnh hưởng đáng kể đến các thuộc tính sinh sản và sinh trưởng, và do đó năng suất hạt, nhưng việc tăng số lượng quả không phải lúc nào cũng có lợi cho năng suất hạt.
#đậu tương #2 #4-DP #BAP #sự hình thành quả #năng suất hạt #chất điều hòa sinh trưởng
Sự phụ thuộc vào nhiệt độ của sự sinh sản của các tế bào tủy xương chuột được nuôi cấy trong môi trường H2O và D2O Dịch bởi AI Springer Science and Business Media LLC - Tập 26 - Trang 187-193 - 1978
Trong nỗ lực tối ưu hóa và tiêu chuẩn hóa điều kiện nuôi cấy in vitro của các tế bào tủy xương chuột để kiểm tra các yếu tố điều hòa tăng trưởng, chúng tôi đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc ấp ở nhiệt độ thấp và của một môi trường dinh dưỡng chứa deuteriumoxide thay vì nước. Kết quả cho thấy (1) khả năng sinh sản của các tế bào tăng đáng kể khi ấp trước trong 1–2 giờ ở 0°C thay vì ở 37°C, được đo bằng cả hai xét nghiệm hình thành thuộc địa và sự hấp thụ 3H-thymidine (3H-tdr). Một hiệu ứng nhiệt độ tương tự đối với khả năng hình thành thuộc địa và sự hấp thụ 3H-tdr cũng được quan sát sau khi ấp trước trong môi trường D2O, nhưng thấp hơn đáng kể so với môi trường H2O. Kết luận rằng các hiệu ứng bảo vệ đã quan sát trước đó của D2O đối với sự sinh sản và khả năng sống sót của các tế bào u báng và sự tan máu của hồng cầu người không rõ ràng trong các tế bào tủy xương chuột đang sinh sản và hình thành thuộc địa in vitro.
#tủy xương chuột #nuôi cấy in vitro #D2O #H2O #khả năng sinh sản #yếu tố điều hòa tăng trưởng
Nghiên cứu đơn trung tâm, mở để điều tra cân bằng bài tiết, dược động học, chuyển hóa, và sinh khả dụng tuyệt đối của một liều uống đơn của idasanutlin được đánh dấu bằng [14C] và một liều chất đánh dấu tĩnh mạch của idasanutlin được đánh dấu bằng [13C] trong một nhóm bệnh nhân có khối u rắn Dịch bởi AI Cancer Chemotherapy and Pharmacology - Tập 84 - Trang 93-103 - 2019
Idasanutlin, một chất đối kháng MDM2 chọn lọc, phân tử nhỏ đang trong giai đoạn thử nghiệm 3 cho AML kháng trị/tái phát, là một chất kích hoạt p53 không có độc tính gen với khả năng sử dụng qua đường uống. Để xác định nhu cầu tiến hành các thử nghiệm chuyên biệt cho sự suy giảm chức năng cơ quan về phơi nhiễm dược động học (PK) và/hoặc tương tác thuốc, một liều đơn của idasanutlin được đánh dấu [14C] và [13C] đã được đánh giá. Nghiên cứu này là một thử nghiệm mở, không ngẫu nhiên tại một trung tâm đơn nhằm điều tra cân bằng bài tiết, dược động học, chuyển hóa và sinh khả dụng tuyệt đối của một liều uống đơn của idasanutlin đánh dấu [14C] và một liều chất đánh dấu tĩnh mạch của idasanutlin đánh dấu [13C] trong một nhóm bệnh nhân có khối u rắn. Sau khi hoàn tất các đánh giá chu kỳ 1, bệnh nhân có thể tham gia vào một phần điều trị mở rộng tùy chọn với idasanutlin. Các chỉ tiêu lâm sàng là PK và an toàn/tolerability. Sự đồng thời sử dụng liều uống idasanutlin với liều chất đánh dấu tĩnh mạch cho thấy CL hệ thống thấp, Vd ở mức trung bình và sinh khả dụng tuyệt đối ở mức trung bình (40.1%) của idasanutlin. Idasanutlin và chất chuyển hóa chính không hoạt động của nó, M4, là những phần chính lưu hành trong huyết tương, và sự bài xuất phóng xạ liên quan đến idasanutlin chủ yếu thông qua đường phân (91.5% liều), với lượng rất nhỏ được phục hồi trong nước tiểu sau khi uống. Các hệ quả lâm sàng của nghiên cứu này hỗ trợ kết luận rằng suy giảm thận khó có thể ảnh hưởng đáng kể đến phơi nhiễm idasanutlin và chất chuyển hóa M4, trong khi một suy giảm gan đáng kể có khả năng làm thay đổi phơi nhiễm đối với thuốc gốc và/hoặc các chất chuyển hóa. Tiềm năng tương tác thuốc là thấp.
#idasanutlin #dược động học #chuyển hóa #sinh khả dụng tuyệt đối #khối u rắn #tương tác thuốc
19. VAI TRÒ CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU HÒA SINH SẢN Ở NỮ GIỚI: TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂMMục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan về vai trò của y học cổ truyền trong điều hòa sinh sản ở nữ giới tại Việt Nam
Phương pháp: Nghiên cứu tổng quan luận điểm, chúng tôi tìm kiếm các bài báo khoa học được công bố trên dữ liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ trong vòng 10 năm tại Việt Nam có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, được thực hiện theo tiêu chuẩn PRISMA – ScR.
Kết quả: Trong 18 bài báo tìm được trên cơ sở dữ liệu, lọc ra được 7 bài báo phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn, trong đó chủ yếu là nghiên cứu can thiệp lâm sàng, so sánh trước sau điều trị (n = 5); nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (n = 2). Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng bài thuốc cổ phương hoặc chế phẩm từ bài thuốc cổ phương (n = 5); chế phẩm từ 1 vị thuốc (n = 2); đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng rối loạn kinh nguyệt (n = 4), phát triển nang noãn và phóng noãn (n = 1), khả năng mang thai (n = 1), điều hòa hormone sinh dục (n = 1).
Kết luận: Nghiên cứu của y học cổ truyền trong điều hòa sinh sản ở nữ giới tại Việt Nam trong vòng 10 năm qua chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả của các bài thuốc cổ phương trong điều trị rối loạn kinh nguyệt, chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu về tác dụng dược lý của các thành phần hoạt chất của các vị thuốc, không có nghiên cứu về các phương pháp không dùng thuốc của y học cổ truyền trong điều hòa sinh sản ở nữ giới.
#Y học cổ truyền #điều hòa sinh sản #nữ giới.
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ MALTODEXTRIN VÀ ĐIỀU KIỆN SẤY PHUN ĐẾN CÁC ĐẶC TÍNH VẬT LÝ VÀ HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA SẢN PHẨM BỘT CÂY THUỒC DÒINghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng maltodextrin (3, 6, 9, 12, 15 và 18% , w/v) bổ sung vào dịch trích thuốc dòi trước khi sấy phun, cũng như điều kiện sấy phun bao gồm: nhiệt độ không khí đầu vào (160, 170, 180, 190 và 2000C) và tốc độ dòng nhập liệu (14, 16, 18, 20 và 22 rpm) đến các đặc tính vật lý và hoạt chất sinh học của bột thuốc dòi thu được. Các thí nghiệm được bố trí riêng lẻ, kết quả tối ưu của thí nghiệm trước làm cơ sở cho việc bố trí ở thí nghiệm sau. Hàm lượng các hợp chất sinh học (anthocyanin, flavonoid, polyphenol và tannin), các đặc tính vật lý của sản phẩm (độ ẩm, hoạt độ nước và kích thước hạt trung bình) sẽ được phân tích đánh giá trong từng thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện sấy phun tối ưu cho dịch trích thuốc dòi là 1800C, tốc độ dòng nhập liệu 18 rpm và nồng độ maltodextrin bổ sung 9% (w/v). Sản phẩm bột thu được có hàm lượng các hợp chất sinh học ở mức cao và các tính chất vật lý đạt yêu cầu cho việc đóng gói và bảo quản.
#Dịch trích thuốc dòi #sấy phun #maltodextrin #đặc tính vật lý #hoạt chất sinh học